... Qua " n Bài Thơ Ngắn " của Đinh Tấn Phước (Nxb Văn Học, 2012) , ta bắt gặp một kiểu cấu trúc tân kỳ mang tính thể nghiệm, và tiếp xúc một tâm hồn thơ phóng khoáng : thoát ly mọi ràng buộc của cảm xúc sáo mòn trong một khung cảnh chật hẹp. Tác giả vừa làm nghệ thuật ngôn từ trong những bài thơ ngắn đến mức vượt giới hạn cô đúc, vừa phi lộ: "nội dung có thể nằmhoặckhông ở những câu chữ". Không hẳn tác giả đưa triết lý toán vào thơ như có người đã cảm nhận, song nếu không có toán học trong con người thi sĩ Đinh Tấn Phước thì vị tất đã xuất hiện " n Bài Thơ Ngắn "! Thơ vốn không phải bao giờ cũng biểu hiện cái cụ thể. Cái không cụ thể trong tình ý sâu xa ở đây, gắn với ý niệm ngắn của bài thơ, câu thơ, lặn sâu vào những câu chữ tưởng chừng mông lung và hư ảo, tạo nên hình tượng và dáng vẻ thơ độc đáo. Phong cách thơ Đinh Tấn Phước bắt đầu từ đấy. Những cái có vẻ mới và lạ trong " n Bài Thơ Ngắn ", tuy không ngoại lệ song cũng không là thông lệ. Thơ là " lĩnh vực của vô cùng" cho mọi ý tưởng sáng tạo. Trong thời đại văn minh trí tuệ như hiện nay, thơ càng tiến xa vào nhiều vùng tìm tòi, khám phá. Đi trong thời đại ấy, Đinh Tấn Phước từ " Chạm Bóng " (Nxb Văn học, 2009) đến " n Bài Thơ Ngắn " đã góp tiếng nói có phong vị và hương sắc riêng vào nền thơ Việt Nam.
Em thấy không, tất cả đã xa rồi Trong hơi thở của thời gian rất khẽ Tuổi thơ kia ra đi cao ngạo thế Hoa súng tím vào trong mắt lắm mê say. Chùm phượng hồng yêu dấu ấy rời tay Tiếng ve trong veo xé đôi hồ nước Con ve tiên tri vô tâm báo trước Có lẽ một người cũng bắt đầu yêu. Muốn nói bao nhiêu, muốn khóc bao nhiêu Bài hát đầu, xin hát về trường cũ Một lớp học bâng khuâng màu xanh rủ Sân trường đêm - Rụng xuống trái bàng đêm. Nỗi nhớ đầu anh nhớ về em Nỗi nhớ trong tim em nhớ về với mẹ Nỗi nhớ chẳng bao giờ nhớ thế Bạn có nhớ trường, nhớ lớp, nhớ tên tôi? "Có một nàng Bạch Tuyết, các bạn ơi Với lại bảy chú lùn rất quấy" "Mười chú chứ, nhìn xem trong lớp ấy" (Ôi những trận cười trong sáng đó lao xao). Những chuyện năm nao, những chuyện năm nào Cứ xúc động, cứ xôn xao biết mấy Mùa hoa mơ rồi đến mùa phượng cháy Trên trán thầy, tóc chớ bạc thêm. Thôi hết thời bím tóc trắng ngủ quên Hết thời cầm dao khắc lăng nhăng lên bàn ghế cũ Quả đã ngọt trên mấy cành đu đủ Hoa đã vàng, hoa mướp của ta ơi! Em đã yêu anh, anh đã xa vời Cây bàng hẹn hò chìa tay vẫy mãi Anh nhớ quá! Mà chỉ lo ngoảnh lại Không thấy trên sân trường - chiếc lá buổi đầu tiên. Hoàng Nhuận Cầm
“Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ
không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy
cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại
thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung, tôi cũng học tại
Thanh Hoá, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938, lúc đó cũng đã 22
tuổi, tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt
như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng
biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm,
hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu
khoá ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi, Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn, Đỗ Thiện và
… Tôi – Nguyễn Hữu Loan. Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên
Thanh Hoá để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ
chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị
Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương,
sau này đắc cử dân biểu quốc hội khoá đầu tiên. Ở Thanh Hoá, Bà tham Kỳ có một
cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới
được bà để mắt tới. Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với
tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo
gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra
khoanh tay, miệng lí nhí : ‘ Em chào thầy ạ’. Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi
mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằng
sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết.
Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong
ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu ấy nhưng ít nói và mỗi
khi mở miệng thì cứ y như một ‘bà cụ non’. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày
một cách kín đáo : em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt
đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn ; những buổi trưa hè, nhằm
lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng
giặt … Có lần tôi kể chuyện « bà cụ non » ít nói cho 2 người anh của em Ninh
nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận ! Suốt một tuần liền em nằm lì
trong buồn trong, không chịu học hành … Một hôm, bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng
nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là
tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ … Trưa hôm ấy, em
ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng
nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý : « mới ốm dậy còn
yếu lắm, không đi được đâu » Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em
lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi … Xe kéo
chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi
theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên
em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước
mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. bất chợt em hỏi tôi
: - Thầy có thích ăn sim không ? Tôi nhìn xuống sườn đồi : tím ngắt một
màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên
thảm cỏ … Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những
quả sim đen láy chín mọng. - Thầy ăn đi. Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên
miệng trầm trồ : « Ngọt quá ». Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình
nông dân, quả sim đối với chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn
những quả sim ngọt đến thế ! Cứ thế, chúng tôi ăn hết quả này đến quả
khác.Tôi nhìn em, em cười. hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai
bên má thì … tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo
!
Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can
ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm
tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi lên tới
bờ đê, nhìn xuống đầu làng,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay
nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi … Tôi quay đầu
nhìn lại … em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn
thấy em nữa … Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức
từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại,
khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn
trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ … Chín năm sau, tôi trở lại nhà,
về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em
không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn là cô học trò
Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp … Yêu
nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào.
Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm
ngầm « soạn kịch bản ». Một tuần sau đó, chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may
áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là
:’yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả’. Tôi cao
ráo, học giỏi, Làm thơ hay … lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc
đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá của
gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng
khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết ! Hai tuần phép của tôi
trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm
chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, Em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín
năm trước em đã đứng. Chỉ giờ em không còn cô bé Ninh nữa, mà là người bạn đời
yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại … Nếu như 9 năm về trước,
nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mát thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi
chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ : vợ tôi
qua đời ! Em chết thật thảm thương : Hôm đó là ngày 25/05 âm lịch năm 1948, em
đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn
chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối ! Con nước lớn đã
cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi nỗi đau
không gì bù đắp nổi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sau thẳm trong trái tim
tôi … Tôi phải giấu kính nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để
tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn …
Dường như càng kèm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh
huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn
đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, Tôi
ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng
cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:
Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội Những em
nàng có em chưa biết nói Khi tóc nàng đang xanh …
… Tôi về không gặp
nàng … Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương,
viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hoá … Anh bạn
này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài
thơ Màu Tím Hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan,
sinh ngày 02/04/1916 hiện tại đang « ở nhà trông vườn » ở làng Nguyên Hoàn – nơi
tôi gọi là chỗ « quê đẻ của tôi đấy » thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh
Thanh Hoá. Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay, nơi em bị nước
cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên
tôi viết mới nổi những câu : Chiều hành quân, qua những đồi sim Những đồi
sim, những đồi hoa sim Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết Màu tím
hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt Và chiều hoang tím có chiều hoang
biếc Chiều hoang tim tím thêm màu da diết. Mất nàng, mất tất cả, tôi chán
đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần
cũng vì tính tôi’ hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ
của tôi’. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ
kháng chiến của tôi. Mặc kệ ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá ! với
lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi ! Đó là thời năm 1955-1956, khi phong
trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống
chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút cam tâm lừa thầy phản bạn,
dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn. Làm thơ phải có
cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà
không có tình, có tâm thì chả ra gì ! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong
khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời
hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng … Y
như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn 1
tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông … Tôi thấy đau xót, tôi làm bài
thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động.. Tôi phản động ở chỗ nào ? Cái
đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc ? Bọn họ xúc phạm đến tình
cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm
1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải
làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được ! Tôi bỏ tôi
về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi,
đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng
gỗ ở phía trước, có 2 cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng
không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ
tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi,
cho người hại tôi … Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi ! Có một cái lạ là thơ
của tôi đã có lần cứu sống tôi ! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó
được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi
nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết
tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mết chuộng. sau năm
1956, khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện
cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm ! Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi
đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu,
cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải
cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954-1955. Lúc đó còn là chính trị viên
của tiểu đoàn, tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học, lại có tâm
hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc
đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá, cách
xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần 500 mẫu
tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông
thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn, nên ông thường cho tá điền gánh gạo
đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên
của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời
đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông. Thế rồi,
một hôm, Tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố . Hai vợ chồng ông bị đội Phóng
tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai
cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại 2 cái đầu đó, cho đến chết.
Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha
chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ
rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi
nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy
con cái địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà
địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì
trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của
một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ, nghe tôi giảng
Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới,
mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào
túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc
động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt
hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng
bị xua đuổi ; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc
miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị
chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất
chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo,
lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó,
bữa đói bữa no … Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và
cháu nội ngoại hơn 30 đứa ! Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ
thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài
cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm
thơ. Thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi
được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm ra nhập làm gì. Năm
1988, tôi « tái xuất giang hồ » sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê
nghèo đèo heo hút gío. Tôi lang bạt gần 1 năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do
hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do
báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm
2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyền bài Màu Tím Hoa Sim của
tôi với gía 100 triệu đồng. Họ bảo, đó là một hình thức bảo tồn tài sản Văn hoá.
Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia « lộc »
cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc
tuổi gìa, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu
Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ
khác nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán…”.
Nhà Thơ HỮU
LOANMÀU TÍM HOA SIMNàng có ba người anh đi bộ đội Những em
nàng Có em chưa biết nói Khi tóc nàng xanh xanh Tôi người Vệ quốc
quân xa gia đình Yêu nàng như tình yêu em gái Ngày hợp hôn nàng
không đòi may áo mới Tôi mặc đồ quân nhân đôi giày đinh bết bùn đất
hành quân Nàng cười xinh xinh bên anh chồng độc đáo Tôi ở đơn vị
về Cưới nhau xong là đi Từ chiến khu xa Nhớ về ái ngại Lấy chồng
thời chiến binh Mấy người đi trở lại Nhỡ khi mình không về thì
thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê… Nhưng không chết người trai
khói lửa Mà chết người gái nhỏ hậu phương Tôi về không gặp
nàng Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối Chiếc bình hoa ngày cưới thành
bình hương tàn lạnh vây quanh Tóc nàng xanh xanh ngắn chưa đầy
búi Em ơi giây phút cuối không được nghe nhau nói không được trông nhau
một lần Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím áo nàng màu tím hoa sim Ngày
xưa một mình đèn khuya bóng nhỏ Nàng vá cho chồng tấm áo ngày
xưa… Một chiều rừng mưa Ba người anh trên chiến trường đông bắc Được
tin em gái mất trước tin em lấy chồng Gió sớm thu về rờn rợn nước
sông Đứa em nhỏ lớn lên Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị Khi gió sớm thu về cỏ
vàng chân mộ chí Chiều hành quân Qua những đồi hoa sim Những đồi hoa
sim những đồi hoa sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa sim tím
chiều hoang biền biệt Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa Áo anh sứt
chỉ đường tà Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu Ai hỏi vô tình hay ác ý với
nhau Chiều hoang tím có chiều hoang biết Chiều hoang tím tím thêm màu da
diết Nhìn áo rách vai Tôi hát trong màu hoa Áo anh sứt chỉ đường
tà Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu… Màu
tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm Tím tình ơi lệ ứa Ráng vàng ma và sừng rúc
điệu quân hành Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn Biền biệt
hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím Tôi ví vọng về đâu Tôi với
vọng về đâu Áo anh nát chỉ dù lâu…
Khách chờ sông
lặng
sóng Thuyền đợi bến đông người Tiếng hát đàn
trầm
bổng
Bóng ai
mắt
mỉm
cười.
4.
Bỏ hai chữ
cuối mỗi câu trong
bài gốc,
đọc
ngược từ
dưới lên, ta được
bài
(ngũ ngôn bát cú,
luật bằng
vần bằng):
Mắt ai bóng
thướt
tha Ðàn hát tiếng ngân xa Bến đợi thuyền xuôi
ngược Sông chờ khách
lại
qua Sắc xuân hương
quyện
lá Cành trúc giậu cài hoa Chén rượu thơ vui thú Ánh
xuân cảnh mến ta.
5.
Bỏ ba chữ
cuối mỗi câu trong
bài gốc,
ta
được bài (tám câu x bốn
chữ ):
Ta mến cảnh xuân Thú vui
thơ
rượu Hoa cài giậu trúc Lá
quyện
hương
xuân Qua lại khách chờ Ngược xuôi
thuyền
đợi Xa ngân tiếng hát Tha
thướt
bóng ai.
6.
Bỏ ba chữ
đầu mỗi câu trong
bài gốc,
đọc
ngược từ dưới lên, ta
được bài
(tám câu x bốn
chữ):
Cười mỉm mắt
ai Bổng trầm đàn hát Người đông
bến
đợi Sóng lặng sông
chờ Tươi thắm sắc xuân Biếc xanh cành
trúc Vơi đầy chén rượu Ngời sáng ánh
xuân.
7.
Bỏ bốn
chữ đầu
mỗi câu trong bài gốc,
ta
được bài (tám câu x ba chữ)
:
Ánh sáng ngời Chén đầy vơi Cành xanh
biếc Sắc thắm tươi Sông lặng
sóng Bến đông người Ðàn
trầm
bổng Mắt mỉm cười.
8.
Bỏ bốn
chữ cuối
mỗi câu trong bài gốc,
đọc
ngược từ
dưới lên, ta được
bài
(tám câu x ba
chữ):
Bóng thướt
tha Tiếng ngân xa Thuyền xuôi
ngược Khách lại
qua Hương quyện lá Giậu cài hoa Thơ vui thú Cảnh mến
ta
TTXuân - Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!/Nhớ về rừng núi nhớ chơi
vơi/Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi/Mường Lát hoa về trong đêm hơi…
Bình minh trên thị trấn Mường Lát - Ảnh: Hà Đồng
Người du kích Lương Văn Pém của đoàn quân năm xưa - Ảnh: Hà
Đồng
Những câu thơ trong bài Tây Tiến bi hùng của Quang Dũng cách nay
65 năm về "đoàn quân không mọc tóc" cứ thôi thúc chúng tôi. Một ngày cuối đông,
chúng tôi vác balô ngược dòng "sông Mã gầm lên khúc độc hành" từ Thanh Hóa trực
chỉ Mường Lát. Sương mù dày đặc, xe len trong sương mà đi.
Vực sâu ngàn thước
Sau bảy tiếng đồng hồ qua quốc lộ 47, đường Hồ Chí Minh, quốc lộ
15A rồi tỉnh lộ 520, qua các huyện Đông Sơn, Triệu Sơn, Thọ Xuân, Ngọc Lặc, Lang
Chánh, Bá Thước, Quan Hóa sau khi băng qua 250km đường sá cheo leo trầy trật, xe
chúng tôi đặt chân lên thị trấn Mường Lát.
Thị trấn nằm trên đỉnh núi, dưới khe sâu con sông Mã oai hùng
thét gào đỏ ngầu phù sa. Bữa cơm tối ở quán cơm Hải Muối, bà chủ quán làm cho tô
canh cá măng nấu mẻ chua với cọng dọc mùng (miền Nam gọi là bạc hà hoặc cọng môn
theo cách gọi miền Trung) húp xì xụp trong cái lạnh cuối đông, hơi khói mịt mù
phà từ mũi miệng. Anh lái xe Lương Văn Tiệu giới thiệu: cá lăng sông Mã ngon
nhất nước!
Sáng sớm khởi hành đi Sài Khao. Cách Mường Lát chỉ 20km nhưng
ngay cả cư dân bản địa ở đây nhiều người không biết đường đi Sài Khao. "Là vì
đường hiểm trở, không có đường ôtô, chỉ có thể đi xe máy hoặc đi bộ", anh bạn
trẻ dẫn đường người Thái tên Hoàng Văn Nhiệm cho biết. 20km đường đi Sài Khao,
chúng tôi lần đầu hiểu thế nào là liều mạng.
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi
trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa
khơi…
Những con dốc dựng ngược trong bài Tây Tiến ngày xưa dành cho đội
quân chân đất ngay trước mắt. Xe máy cài số một, mệt nhọc rú rít giật cục từng
cơn bò trên con đường đất lẫn đá nhơm nhớp sương mai trơn trượt và chỉ rộng
chừng 30cm – nhiều đoạn chỉ 20cm và vết mòn chỉ vừa lằn bánh xe, một bên là vách
núi dựng đứng, một bên là vực sâu ngàn thước thăm thẳm.
Xe chạy qua, đất đá rơi lạo xạo rồi mất hút. Đường vừa đi qua,
ngoái lại đã thấy mỏng te ngoằn ngoèo như sợi chỉ giữa trập trùng núi non và mờ
ảo trong sương. Sơ sẩy là tan xác. Nhưng Nhiệm lại tự hào: đây là con đường
thanh niên, do Đoàn thanh niên bản Suối Lóng làm cách đây hai năm với hơn 60 bạn
trẻ làm ròng rã trong hai tháng để thông với Sài Khao.
"Bạt núi thành đường, gian nan lắm nhưng có con đường bản làng ta
đi lại được, đưa con heo, con gà, bí ngô ra phố huyện" - Nhiệm nói. Bí ngô và bí
xanh (bí đao) ở Sài Khao là loại giống đặc biệt từ ngàn đời chưa bị lai tạp, bởi
người Mông dù di cư đến đâu cũng mang theo con giống bên mình, kể cả chó và heo,
nổi tiếng nhất là giống lợn ỉ. Ông Phạm Bá Điểm - người Mường, phó chủ tịch
huyện Mường Lát - cho biết lợn ỉ trong làng cứ thả lông nhông, đến mùa tết bà
con mang ra huyện bán được 150.000 đồng/kg hơi. Đây còn gọi là "lợn cắp nách",
đặc sản khi về xuôi.
Sau hơn hai giờ dò dẫm trên con đường kinh hoàng 8km từ bản Suối
Lóng với những vực sâu thăm thẳm và vách núi lừng lững, bất ngờ trước mắt hiện
ra một thung lũng nhỏ chìm khuất trong sương với những mái nhà bạc thếch. Nhiệm
quăng xe nằm vật ra đất thở phì phì: đã đến Sài Khao! Tiếng chó sủa tong tóc
nghe ấm áp. Sài Khao lừng danh bé bỏng và yên bình đến thế.
Trẻ em và người già Sài Khao đưa hàng về chợ huyện Mường Lát. Ngựa thồ là
phương tiện tiện lợi nhất để vận chuyển hàng hóa về trung tâm - Ảnh: Hà
Đồng
Bản nghèo bình yên
Bản có 74 hộ, toàn người Mông. Bao nhiêu nhân khẩu thì ông trưởng
bản chịu, không biết. Nhà ông cũng là số ít có tường gạch, nền ximăng. Góc nhà
chất đầy 60 bao lúa. Lúa ở đây tính bao, không tính ký. Diện tích canh tác cũng
không tính bằng sào, bằng hecta. Giàng A Sùng - con trai ông trưởng bản, sinh
năm 1986, đã có vợ và ba con, từng đi bộ đội đóng ở Kon Tum - cho biết: "Nhà ta
trồng 60 ký lúa nương, 30 ký ngô". Cũng phải, tính sao được khi một hốc núi, một
vạt đất cũng cắm hạt lúa, hạt ngô đợi ngày ra bông ra trái.
Ngày chủ nhật nên Vàng A Căng - một trong tám học sinh đang học ở
trường huyện - về bản. "Bản ta đã có năm người học xong cấp III, có Vàng A May
là người đầu tiên đang học ở Đại học Hồng Đức" - A Căng tự hào. Nhà Vàng A Căng
có bảy anh em, ba người được đi học.
Nhưng số được đi học như anh em nhà A Căng không nhiều. Hai vợ
chồng Vàng A Dơ và Sùng Thị Chu (26 và 25 tuổi) đã có ba con vẫn chưa biết chữ,
dù Trường tiểu học Sài Khao chỉ cách nhà một hàng rào. Tục tảo hôn vẫn còn nặng
ở vùng này. Một em bé gái lấp ló nhìn khách lạ, A Căng bảo: "Nó tới tuổi sắp lấy
chồng rồi, thích ai thì về ở với người đó thôi". Đó là Vàng Thị Dúa, 12 tuổi. Cô
bé có đôi mắt sắc và gò má ửng hồng, đỏ lựng như trái cà chua.
Bản nghèo, nghèo quá! Có cái ăn như nhà Vàng A Sùng không phải là
nhiều. "Bí, ngô làm ra nhiều đấy nhưng chỉ để cho lợn ăn vì không có đường đi,
không bán được" - ông Phạm Bá Điểm nói. Bí ngô ở chợ Mường Lát bán 10.000
đồng/kg, một trái chừng 3-4kg. Xe máy chở ra chợ mỗi lần được chừng 5-7 quả
nhưng tiền xăng đã ngốn gần hết. Trâu, bò, lợn thì cứ thả rông, mùa lạnh lăn ra
chết. Thế nhưng nhà nào cũng có chiếc xe máy. "Nghèo thì nghèo, ta vẫn cố lấy
con xe làm cái chân mà đi" - Vàng A Dơ phân trần. Trước cửa nhà A Dơ là chiếc
cối xay bằng đá to đùng còn vương vãi bột ngô mới xay dùng làm mèn mén, món ăn
hằng ngày, sền sệt như hồ.
Con nít ở Sài Khao lăn lóc quẩn quanh trong bản. Mùa đông lạnh
ngăn ngắt, sương mù quện quanh dày đặc, có đứa tồng ngồng không mặc quần, mũi
dãi lò thò. Thương nhất là những bé gái chừng 5-6 tuổi đã cõng em ngoặt ngoẹo
ngủ trên lưng, cả chị cả em đều phong phanh áo xống. Chỉ những cô thiếu nữ biết
làm dáng mới mặc váy hoa sạch sẽ. Váy người Mông là một tuyệt tác, rực rỡ như
đàn bướm hoa, đỏ ối pha lẫn vàng cam, trong cơn gió lạnh lùa về phảng phất khói
sương như ngọn lửa làm bản làng ấm áp.
Sài Khao, tên bản đẹp và thân thương nhưng vẫn còn rất xa xôi và
nghèo khó quá.
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Mường Lát có 7.161 hộ với 35.000 nhân khẩu. Mặc dù tỉ lệ hộ nghèo
đã giảm so với năm trước nhưng trong năm 2012 vẫn còn 49,4% hộ nghèo. Toàn huyện
có sáu dân tộc anh em: Mông, Thái, Mường, Dao, Khơ Mú và ít nhất là người
Kinh.
Mường Lát nằm bên dòng sông Mã nổi tiếng với câu Sông Mã gầm lên
khúc độc hành. Sông Mã có hai nguồn chính, nguồn thứ nhất từ phía nam tỉnh Điện
Biên chảy qua huyện Sông Mã của tỉnh Sơn La rồi qua lãnh thổ Lào, sau đó đổ về
Thanh Hóa. Tại đây sông chảy qua các huyện phía bắc của tỉnh, hội lưu với sông
Chu rồi đổ ra vịnh Bắc bộ theo hai nhánh cửa Lạch Hới và Lạch Sung. Phù sa sông
Mã là nguồn chủ yếu tạo nên đồng bằng Thanh Hóa lớn thứ ba ở Việt
Nam.
ĐẶNG ĐẠI - HÀ ĐỒNG
_____________________
Tây Tiến
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao
sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn
mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông
mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên
đời! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu
người
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em
thơm nếp xôi
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo
tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn
thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn
lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong
đưa
Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc Quân xanh màu
lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều
thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường
đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc
độc hành
Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm
thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về
xuôi.
Phù Lưu Chanh, 1948
QUANG DŨNG (Mây đầu ô, NXB Tác Phẩm Mới, Hà
Nội, 1986)
Bến Ngọc - nơi đoàn quân Tây Tiến xuất binh Tranh: QUANG DŨNG
vẽ năm 1960
Đoàn quân oai hùng Tây Tiến
Mường Lát, Sài Khao là hai địa danh trong bài Tây Tiến
của Quang Dũng (phía cực tây Thanh Hóa, giáp biên giới Lào), người lính trong
trung đoàn 52 Tây Tiến. Bài thơ này ông viết năm 1948. Số phận bài thơ lận đận
như cuộc đời ông. Hiện nay bài Tây Tiến được đưa vào sách giáo khoa lớp 12 và
còn được tạc vào bia đá đặt tại tượng đài nghĩa trang liệt sĩ Tây Tiến ở Mai
Châu, Lạc Sơn (Hòa Bình).
Đoàn quân Tây Tiến thành lập tháng 2-1947, được Đại
tướng Võ Nguyên Giáp đích thân phân công về phía Tây Bắc, tiến về mạn Sơn La,
Hòa Bình, tây Thanh Hóa, giáp biên giới Lào là Hủa Phăn, Xiêng Khoảng để phong
tỏa, ngăn chặn ý đồ của quân Pháp đánh chiếm từ Lào qua, chiếm thế "cứ cao lâm
hạ" uy hiếp các tỉnh từ Lai Châu đến Thanh - Nghệ và đặc biệt là thực hiện âm
mưu "dĩ Việt chế Việt", chia rẽ và lập lực lượng lính Việt thiểu số đánh người
Việt.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, trung đoàn Tây
Tiến tiếp tục lên đường vào Nam làm nhiệm vụ giải phóng đất nước và sau đó làm
nghĩa vụ ở nước bạn Campuchia. Đoàn quân này đã sản sinh ra những danh tướng
trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc như Đại tướng Văn Tiến Dũng,
huyền thoại bắn súng hai tay như một Tạ Đình Đề...
(Dân trí) - Lời tâm sự với mẹ người mình yêu như “trấn an” và “định vị” chức phận của mỗi người. “Mẹ đừng buồn! Những hoàng hôn và những ban mai. Anh ấy có thể nhớ con hơn nhớ mẹ. Nhưng con chỉ là một cơn gió nhẹ. Mẹ luôn là bến bờ thương nhớ của đời anh”.
(Minh họa: Ngọc Diệp)
Mẹ đừng buồn khi anh ấy yêu con
Bởi trước con, anh ấy là của mẹ
Anh ấy có thể quên con, một thời trai trẻ
Nhưng anh ấy suốt đời yêu mẹ, mẹ ơi!
Mẹ đã sinh ra anh ấy trên đời
Hình bóng mẹ lắng vào tim anh ấy
Dẫu bây giờ, con được yêu đến vậy
Con cũng chỉ là ... người đàn bà thứ hai.
Mẹ đừng buồn!
Những hoàng hôn và những ban mai
Anh ấy có thể nhớ con hơn nhớ mẹ
Nhưng con chỉ là một cơn gió nhẹ
Mẹ luôn là bến bờ thương nhớ của đời anh
Con chỉ là một sợi khói mỏng manh
Bao người đàn bà khác có thể thay thế con trong tim anh ấy
Nhưng có một tình yêu âm ỷ cháy
Anh ấy chỉ dành riêng cho mẹ mà thôi
Anh ấy có thể sống với con đến suốt cả cuộc đời
Cũng có thể chia tay trong ngày mai, có thể…
Nhưng anh ấy suốt đời yêu mẹ
Dù thế nào, con cũng chỉ thứ hai.
Phan Thị Vĩnh Hà
BLOG: Nhân dịp Ngày Quốc tế Phụ nữ, BLOG Người yêu thơ xin được gửi tới tất cả chị em lời chúc mừng nồng nhiệt nhất. Về bài thơ Người đàn bà thứ hai, hiện có 2 luồng ý kiến khác nhau về tác phẩm này. Người thì cho rằng bài thơ này của Nhà thơ Xuân Quỳnh nhưng nhiều người lại cho rằng của tác giả Phan Thị Vĩnh Hà. Theo chúng tôi, có lẽ bài thơ của Vĩnh Hà đúng hơn vì giọng điệu bài thơ không giống với phong cách của Thi sĩ Xuân Quỳnh. BLOG Người yêu thơ rất mong nhận được ý kiến từ các bạn.
Những bóng hồng trong thơ nhạc : Hoa trắng thôi cài
trên áo tím
HOA TRẮNG THÔI CÀI LÊN ÁO TÍM
Nhà thơ Kiên Giang
Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa cháy quê hương
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương nóc giáo đường
Mười năm trước em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em còn nguyên vẹn tuổi băng trinh
Quen biết nhau qua tình lối xóm
Cổng trường đối diện ngó lầu chuông
Mỗi lần chúa nhật em xem lễ
Anh học bài ôn trước cổng trường
Thuở ấy anh hiền và nhát quá
Nép mình bên gác thánh lầu chuông
Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường
Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thùng, anh đứng lại không đi
Sau mười năm lẽ anh thôi học
Nức nở chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi, chuông xóm đạo
Khi nàng áo tím bước vu quy
Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
Chiếc áo tang liệm kín khối sầu!
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Giữ làm chi kỹ vật ban đầu!
Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đò ngang cách mấy sông
Vẫn nhớ bóng vang thời áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng
Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ màu áo tím, cành hoa trắng
Giữ cả trường xưa, nóc giáo đường
Giặc chiếm lầu chuông xây ổ súng
Súng gầm rung đổ gạch nhà thờ
Anh đem gạch nát, xây tường lủng
Chiếm lại lầu chuông, giết kẻ thù
Nhưng rồi người bạn đồng song ấy
Đã chết hiên ngang dưới bóng cờ
Chuông đổ ban chiều, hồi vĩnh biệt
Tiễn anh ra khỏi cổng nhà thờ
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Mà cài trên nắp áo quan tài
Điểm tô công trận bằng hoa trắng
Hoa tuổi học trò, mờ thắm tươi
Xe tang đã khuất nẻo đời
Chuông nhà thờ khóc đưa người ngàn thu
Từ đây tóc rũ khăn sô
Em cài hoa trắng lên mồ người xưa.
*****
28/ 5/ 58
Hơn nửa thế kỷ trước, bài thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím của nhà
thơ Kiên Giang ra đời (1958) đã làm xôn xao dư luận một thời. Bài thơ còn được
biết đến nhiều hơn khi được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ thành ca khúc.
Kiên Giang là nhà thơ, soạn giả cải lương (tác giả các vở tuồng Áo cưới
trước cổng chùa, Sơn nữ Phà Ca…), nhà báo - chứng nhân còn sót lại của sự
kiện “Ngày ký giả đi ăn mày” (xảy ra vào năm 1974, báo giới miền Nam xuống đường
với nón lá, bị, gậy của dân “cái bang” để chống đối chính quyền Thiệu ra sắc
luật đàn áp báo chí)… Người viết chơi thân với ông đã gần hai mươi năm nhưng
muốn gặp ông thật khó bởi ông luôn dịch chuyển (rất giống với ông bạn thân cùng
lứa, cùng làng là nhà văn Sơn Nam).
Năm nay 84 tuổi, mái tóc đã gội tuyết sương đến bạc trắng nhưng nếu có ai hỏi
về thời niên thiếu, về Sơn Nam, về Nguyễn Bính (người thầy dạy Kiên Giang làm
thơ khi ông mới 17 tuổi) và nhất là về người con gái trong bài thơ Hoa trắng
thôi cài trên áo tím là ông kể một mạch bằng một giọng bùi ngùi, không hề
đứt đoạn, làm như những chuyện đó đã thấm vào máu thịt của ông… “Thuở ấy anh hiền và nhát quá ...”
17 tuổi, anh học trò Trương Khương Trinh (tên thật của Kiên Giang) rời vùng
quê Rạch Giá lên Cần Thơ học lớp đệ nhị (lớp 11 bây giờ) ở Trường trung học tư
thục Nam Hưng. Vốn là người có hoa tay: vẽ vời và viết chữ rất đẹp (đến bây giờ
chữ của ông vẫn rất lả lướt) nên ông được các thầy cô giáo cho thực hiện một tờ
báo (chép tay vào cuốn vở học trò) lấy tên là Ngày xanh. Tờ báo này là đối
trọng, giao lưu với tờ Thắm của Trường trung học Ba Sắc, cũng nằm trên địa bàn.
Cứ vào chủ nhật mỗi tuần, các cô cậu “nhà báo - học trò” lại quây quần trong một
vườn xoài xanh um bóng mát để thực hiện tờ báo. Kiên Giang biên tập bài vở và
trình bày (vẽ, trang trí…), còn cô bạn Nguyễn Thị Nhiều thì chép bài vở (có lẽ
chữ cô này đẹp hơn chữ của Kiên Giang!).
Tuy mang cái tên rất dân dã nhưng Nhiều rất đẹp với mái tóc dài ôm xõa bờ
vai, thỉnh thoảng vờn bay trong gió. Mái tóc ấy, khuôn mặt ấy đã khiến tâm hồn
non trẻ nhưng rất lãng mạn của chàng trai sau này trở thành nhà thơ… tơ vương.
Gia đình nàng theo đạo Thiên Chúa nên mỗi sáng chủ nhật nàng thường đi lễ nhà
thờ Cần Thơ. Kiên Giang không theo đạo nhưng sáng chủ nhật nào cũng “rình” trước
cổng nhà thờ để được “tháp tùng” nàng trên đường đi lễ về. “Yêu nhau” chỉ có
vậy: ngoài những cái liếc mắt và những nụ cười thẹn thùng, e ấp thì hai người
chẳng còn thứ gì để “trao đổi” nữa cả. Tuy thế, cả hai đều cảm nhận được những
tình cảm sâu kín mà họ dành cho nhau. Rồi cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra, kéo
dài suốt 9 năm (1945-1954), việc học hành bị gián đoạn, trường lớp tan tác… Kiên
Giang và bạn bè thân thiết (Nguyễn Bính, Sơn Nam…) vào Khu 8 tham gia kháng
chiến, và rồi ông lập gia đình trong thời gian này.
Bài thơ
và thủ bút của nhà thơ Kiên Giang tặng người
viết
“Để nghe khe khẽ lời em nguyện”
Sau này, nhiều lần Kiên Giang tâm sự với người viết: “Điều xót xa (sau này
mới biết) là trong những tháng ngày loạn lạc đó, Nhiều vẫn âm thầm chờ đợi tôi.
Năm 1955, nàng quyết gặp mặt tôi một lần rồi mới lấy chồng. Tình cảm cứ ám ảnh
tôi khôn nguôi. Tôi đưa hình ảnh và tâm sự của hai đứa vào bài thơ Hoa trắng
thôi cài trên áo tím, làm tại Bến Tre năm 1958. Ở đoạn kết có những câu: “Ba
năm sau, chiếc xe hoa cũ/Chở áo tím về giữa áo quan/Chuông đạo ngân vang hồi
tiễn biệt/Khi anh ngồi kết vòng hoa tang…”, tôi đã “cho” người mình thầm
yêu phải chết đi, để mối tình kia còn nguyên vẹn là của riêng mình. Tuy nhiên,
một thời gian sau tôi có dịp gặp lại cố nhân ở Sóc Trăng (lúc này nàng đã có
chồng). Sau cuộc gặp gỡ đó, không hiểu sao tôi lại muốn mình (người bạn trai
trong bài thơ) chết để bảo vệ quê hương, để không còn vương vấn mối tình thuở
học trò. Tôi đã sửa lại đoạn kết như thế ở Hàng Xanh (Gia Định), nhưng hầu như
bạn đọc chỉ thích giữ nguyên tác, nhất là khi nó được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ
thành ca khúc thì bài thơ lại càng nổi tiếng, lan tỏa. Có lần tôi thú thực với
bà xã về cái ấn tượng “sắc hoa trắng - màu áo tím”. Từ đó không có màu tím trong
tủ áo nhà tôi nữa...”.
Trong thơ là thế nhưng sự thật ngoài đời chẳng có ai chết cả. Năm 1977 họ lại
có dịp gặp nhau. 33 năm đã trôi qua kể từ “Thuở ấy anh hiền và nhát quá/Nép
mình bên gác thánh lầu chuông/Để nghe khe khẽ lời em nguyện/Thơ thẩn chờ em
trước thánh đường…”, bây giờ gặp lại, hai mái đầu đã bạc. Cả hai cố tránh
không nhắc nhớ về cái thời cùng học dưới mái trường Nam Hưng, nhưng tự trong sâu
thẳm tâm hồn họ vẫn trân trọng “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy”.
Kiên Giang kể lại, đầu năm 1999 Hãng phim truyền hình TP.HCM (TFS) thực hiện
một bộ phim tài liệu về ông mang tên Chiếc giỏ đời người (Kiên Giang đi
đâu cũng kè kè một chiếc giỏ, mặt ngoài vẽ chi chít chữ - NV), trong kịch bản có
một cảnh quay tại Cần Thơ. Khi ông và ê kíp làm phim đến nhà “người xưa” mời bà
Nhiều ra quay cảnh ở nhà thờ chính tòa thì thấy ngôi nhà đóng cửa, lạnh ngắt.
Người hàng xóm cho biết bà Nhiều đã qua đời năm 1998. Ông thật xót xa… Hôm sau
ông trở lại, cô con gái của bà Nhiều kể rằng lúc bà mất, tang gia có gửi thiệp
báo tin cho ông nhưng tiếc là ông đã không nhận được để tiễn biệt người xưa lần
cuối thực sự chứ không phải tiễn biệt như trong thơ. Rồi ông cùng người con gái
của bà ra nghĩa trang viếng mộ. “Người xưa” bây giờ chỉ còn là di ảnh trên bia
mộ, nhưng người con gái đứng bên ông thì lại giống cô Nhiều ngày trước lạ
lùng…
Cũng cần nói thêm, năm 2002 người viết đã có giới thiệu (và đăng) bài thơ
Hoa trắng thôi cài trên áo tím trên Báo Thanh Niên. Hôm đó,
các sạp báo ở Sài Gòn không còn tờ Thanh Niên nào sót lại, rất nhiều
người (có cả những anh chạy xe ôm, xích lô…) đã đến tận tòa soạn để hỏi mua. Ở
Cần Thơ cũng “cháy báo”, không còn đủ số lượng cung cấp cho bạn đọc (hồi đó ở
Cần Thơ Báo Thanh Niên chưa được in cùng lúc với nhiều chỗ như bây
giờ), tòa soạn ở TP.HCM phải in thêm, đưa xuống tặng bạn đọc. Kể như thế để thấy
rằng bài thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím được công chúng miền Nam
yêu thích như thế nào.
Em ở thành Sơn chạy giặc về Tôi từ chinh chiến cũng ra đi Cách biệt bao lần quê Bất Bạt Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì
Vừng trán em vương trời quê hương Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm Em có bao giờ em nhớ thương
Từ độ thu về hoang bóng giặc Điêu tàn thôi lại nối điêu tàn Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ Em có bao giờ lệ chứa chan
Mẹ tôi em có gặp đâu không Những xác già nua ngập cánh đồng Tôi cũng có thằng em còn bé dại Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông
Đôi mắt người Sơn Tây U uẩn chiều lưu lạc Buồn viễn xứ khôn khuây
Cho nhẹ lòng nhớ thương Em mơ cùng ta nhé Bóng ngày mai quê hương Đường hoa khô ráo lệ
Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng Sông Đáy chậm nguồn quanh phủ quốc Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng
Bao giờ tôi gặp em lần nữa Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa Đã hết sắc mầu chinh chiến cũ Còn có bao giờ em nhớ ta
Nhà thơ Quang
Dũng ĐÔI DÒNG TIỂU
SỬ
Quang
Dũng tên thật Bùi Đình Diệm, sinh năm 1921 tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng
(nay thuộc Hà Nội).
Thuở nhỏ, ông theo học trung học tại trường Thăng
Long, Hà Nội. Sau 1954, ông làm biên tập viên tại báo Văn nghệ, rồi
chuyển về Nhà xuất bản Văn học.
Sau 1954, ông làm biên tập viên tại báo
Văn nghệ, rồi chuyển về Nhà xuất bản Văn học.
Sau năm 1954, ông
sống như một kẻ vô danh tại miền Bắc, từ trần ngày 13 tháng 10 năm 1988 tại Hà
Nội sau một thời gian dài đau bệnh.
Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Bài
Thơ Sông Hồng (1956), Rừng Biển Quê Hương (1957), Mây Đầu Ô (1986), truyện ngắn
Mùa Hoa Gạo (1950), hồi ký Làng Đồi Đánh Giặc (1976)......
Thơ Quang
Dũng nằm giữa biên giới của thật và mơ, như khói như mây mờ mờ ảo ảo, như tiếng
vọng từ chân trời nào xa vắng...
Ông là người tài hoa, vẽ tài, hát giỏi,
thơ hay. Bài thơ Tây Tiến của ông mang đậm nét hào hùng, bi tráng pha chất lãng
mạn được chọn vào giảng dạy trong giáo trình trung học phổ thông. Một số bài thơ
của ông đã được phổ nhạc như Tây Tiến (Phạm Duy phổ nhạc), Đôi mắt người Sơn Tây
(Phạm Đình Chương phổ từ hai bài thơ Đôi bờ và Đôi mắt người Sơn Tây), Kẻ ở
(Cung Tiến phổ nhạc). Đặc biệt bài thơ Em mãi là 20 tuổi được 3 nhạc sĩ phổ nhạc
khác nhau (Việt Dzũng, Phạm Trọng Cầu, Khúc Dương).
Năm 2001, ông được
tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
Đây thôn Vỹ Dạ, lúc đầu có tên là Ở đây thôn Vỹ Dạ. Theo một
số tài liệu, bài thơ được gợi cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử với một cô
gái vốn quê ở thôn Vỹ Dạ .
GS. Nguyễn Đăng Mạnh cho biết: Hồi làm nhân viên ở sở đạc điền
Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử có thầm yêu trộm nhớ đơn phương một cô gái người Huế tên
là Hoàng Thị Kim Cúc, con ông chủ sở. Một thời gian sau, nhà thơ vào Sài Gòn
làm báo, khi trở lại Quy Nhơn thì cô gái đã theo gia đình về Vỹ Dạ (Huế). Một
buổi kia, cô Cúc do sự gợi ý của một người em thúc bá, bạn của Hàn Mặc Tử, gửi
vào cho nhà thơ một tấm bưu ảnh chụp một phong cảnh sông nước có thuyền và bến,
kèm theo mấy lời thăm hỏi để an ủi nhà thơ lúc này đã mắc hiểmnghèo (bệnh
phong).
Lời thăm hỏi không ký tên, nhưng bức ảnh và những dòng chữ
kia đã kích thích trí tưởng tượng, cảm hứng, và đã gợi dậy những gì thầm kín xa
xưa của Hàn Mặc Tử .
Theo Nguyễn Bá Tín, em ruột nhà thơ Hàn Mặc Tử, thì: Năm
1939, Hoàng Cúc nhận được hung tin nói trên từ Hoàng Tùng Ngâm. Nàng chuẩn bị một
số tiền định gửi cho Hàn Mặc Tử uống thuốc nhưng không dám gửi. Nàng bèn gửi
cho Hàn Mặc Tử một bức ảnh chụp cảnh nàng mặc áo lụa dài trắng đứng dưới vòm
cây xanh mát. Nhận được ảnh, Hàn Mặc Tử rất vui. Chàng liền làm ngay bài thơ
Đây thôn Vỹ Dạ gửi ra Huế cho Hoàng Cúc
ST
Thôn Vỹ Dạ
Trước đây, Vỹ Dạ là một địa danh nên thơ,
một làng nổi tiếng của xứ Huế mộng mơ,vùng quê hương sản sinh ra nhiều văn
nhân, thi sĩ và nghệ sĩ tài hoa, đã từng là đề tài sáng tác cho các thi nhân
khắp nước.
Làng Vỹ Dạ thuộc huyện Phú Vang, tỉnh
Thừa Thiên. Từ Đập Đá đi xuống làng Vỹ Dạ, phía bên phải là đồng lúa phì nhiêu,
bờ tre xanh ngắt. Đến mùa lúa chín, cánh đồng trông như những đợt sóng vàng,lấp
lánh dưới ánh nắng mặt trời mỗi khi có gió nhẹ lướt qua. Phía bên trái là dòng
sông Hương dịu dàng, nước trong xanh, bên kia sông là Cồn Hến.
Về nguồn
gốc thôn Vỹ Dạ, trong cuốn “Ô Châu Cận Lục” xuất bản năm 1555 của Dương
Văn An có ghi: Huyện Kim Trà (sau này chúa Nguyễn Hoàng đổi lại là huyện Hương
Trà) gồm có 60 xã, xã thứ 60 là xã Vỹ Dạ. Nguồn gốc địa danh Vỹ Dạ do hai chữ Vy
Dã đọc trại ra. Về ý nghĩa, Vy là lau lách. Trong truyện Kiều của Nguyễn Du có
câu:
Gió chiều như gợi cơn
sầu
Vi lô hiu hắt như màu khơi
trêu.
Dã là đồng nội, là cánh đồng. Thơ cổ có câu:
Cuộc thế mịt mù trong dã
mã.
Vy Dã có nghĩa là cánh đồng lau
lách.
Làng Vỹ Dạ có nhiều gia đình tộc Nguyễn
Phước tức là gia đình dòng dõi vua chúa và cũng là họ ngoại của Tướng Nguyễn
Khoa Nam. Trải dài hơn 1 cây số hai bên đường Thuận An từ Đập Đá qua khỏi Chợ
Mới thì tới phường Tây Thượng, đó là nơi cư ngụ của những gia đình tộc
Nguyễn Khoa. Mỗi nhà là một biệt thự, có cây cảnh, hòn
non bộ, vườn nuôi thú vật, chim chóc, trông rất đẹp mắt. Vỹ Dạ có đình làng,
chợ, rạp hát, trường Thế Dạ, nhà thờ Tuy Lý Vương,
thường gọi là phủ Ba Cửa, chùa Phước Huệ. Phía trên Vỹ Dạ là Đập Đá dùng để ngăn
nước mặn từ sông Hương không cho chảy qua sông Như Ý thuộc làng Thọ Lộc làm hại
cho ruộng lúa và cũng để cho việc giao thông với quận Phú Vang được dễ dàng.
Phía dưới Vỹ Dạ là chợ Gia Lạc và chùa Ba La Mật.
Chùa Ba La Mật cảnh trí thật đẹp, thiện nam tín nữ đến lễ chùa rất đông. Chùa
này do cụ Nguyễn Khoa Luận, Bố Chánh Thanh Hóa xây dựng. Ông treo ấn từ quan,
xuống tóc đi tu, sau trở thànhViên Giác Đại Sư.
Chữ Ba La Mật còn in
dấu
Bóng mặt trời soi tỏ bấy
nay.
(Ưng Bình Thúc
Giạ)
Vỹ Dạ có phong cảnh nên thơ, có dòng
sông xanh, có những thiếu nữ thướt tha duyên dáng, những chàng trai phong nhã,
đa tình và là đề tài cảm hứng cho các thi nhân.
Vỹ Dạ có phong cảnh nên thơ, có dòng
sông xanh, có những thiếu nữ thướt tha duyên dáng, những chàng trai phong nhã,
đa tình và là đề tài cảm hứng cho các thi nhân.