Hiển thị các bài đăng có nhãn THƠ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn THƠ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013

VỀ " n BÀI THƠ NGẮN "

Nhà thơ Đinh Tấn Phước thăm chùa Thiên Ân , Quảng Ngãi hè 2013.

GS. Trường Lưu *

... Qua " n Bài Thơ Ngắn " của Đinh Tấn Phước (Nxb Văn Học, 2012) , ta bắt gặp một kiểu cấu trúc tân kỳ mang tính thể nghiệm, và tiếp xúc một tâm hồn thơ phóng khoáng : thoát ly mọi ràng buộc của cảm xúc sáo mòn trong một khung cảnh chật hẹp. Tác giả vừa làm nghệ thuật ngôn từ trong những bài thơ ngắn đến mức vượt giới hạn cô đúc, vừa phi lộ: "nội dung có thể nằmhoặckhông ở những câu chữ". Không hẳn tác giả đưa triết lý toán vào thơ như có người đã cảm nhận, song nếu không có toán học trong con người thi sĩ Đinh Tấn Phước thì vị tất đã xuất hiện " n Bài Thơ Ngắn "!
Thơ vốn không phải bao giờ cũng biểu hiện cái cụ thể. Cái không cụ thể trong tình ý sâu xa ở đây, gắn với ý niệm ngắn của bài thơ, câu thơ, lặn sâu vào những câu chữ tưởng chừng mông lung và hư ảo, tạo nên hình tượng và dáng vẻ thơ độc đáo. Phong cách thơ Đinh Tấn Phước bắt đầu từ đấy.
Những cái có vẻ mới và lạ trong " n Bài Thơ Ngắn ", tuy không ngoại lệ song cũng không là thông lệ. Thơ là " lĩnh vực của vô cùng" cho mọi ý tưởng sáng tạo. Trong thời đại văn minh trí tuệ như hiện nay, thơ càng tiến xa vào nhiều vùng tìm tòi, khám phá. Đi trong thời đại ấy, Đinh Tấn Phước từ " Chạm Bóng " (Nxb Văn học, 2009) đến " n Bài Thơ Ngắn " đã góp tiếng nói có phong vị và hương sắc riêng vào nền thơ Việt Nam.


(*): Nguyên Viện trưởng Viện Văn hoá

Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2013

Chiếc lá đầu tiên


Em thấy không, tất cả đã xa rồi
Trong hơi thở của thời gian rất khẽ
Tuổi thơ kia ra đi cao ngạo thế
Hoa súng tím vào trong mắt lắm mê say.
Chùm phượng hồng yêu dấu ấy rời tay
Tiếng ve trong veo xé đôi hồ nước
Con ve tiên tri vô tâm báo trước
Có lẽ một người cũng bắt đầu yêu.
Muốn nói bao nhiêu, muốn khóc bao nhiêu
Bài hát đầu, xin hát về trường cũ
Một lớp học bâng khuâng màu xanh rủ
Sân trường đêm - Rụng xuống trái bàng đêm.
Nỗi nhớ đầu anh nhớ về em
Nỗi nhớ trong tim em nhớ về với mẹ
Nỗi nhớ chẳng bao giờ nhớ thế
Bạn có nhớ trường, nhớ lớp, nhớ tên tôi?
"Có một nàng Bạch Tuyết, các bạn ơi
Với lại bảy chú lùn rất quấy"
"Mười chú chứ, nhìn xem trong lớp ấy"
(Ôi những trận cười trong sáng đó lao xao).
Những chuyện năm nao, những chuyện năm nào
Cứ xúc động, cứ xôn xao biết mấy
Mùa hoa mơ rồi đến mùa phượng cháy
Trên trán thầy, tóc chớ bạc thêm.
Thôi hết thời bím tóc trắng ngủ quên
Hết thời cầm dao khắc lăng nhăng lên bàn ghế cũ
Quả đã ngọt trên mấy cành đu đủ
Hoa đã vàng, hoa mướp của ta ơi!
Em đã yêu anh, anh đã xa vời
Cây bàng hẹn hò chìa tay vẫy mãi
Anh nhớ quá! Mà chỉ lo ngoảnh lại
Không thấy trên sân trường - chiếc lá buổi đầu tiên.
                                       
                                                       Hoàng Nhuận Cầm

Đặc biệt, bài thơ

Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2013

NHỮNG ĐỒI HOA SIM

 

“Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung, tôi cũng học tại Thanh Hoá, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938, lúc đó cũng đã 22 tuổi, tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khoá ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi, Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn, Đỗ Thiện và … Tôi – Nguyễn Hữu Loan.
Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hoá để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khoá đầu tiên. Ở Thanh Hoá, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.
Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí : ‘ Em chào thầy ạ’. Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằng sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu ấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một ‘bà cụ non’. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo : em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn ; những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …
Có lần tôi kể chuyện « bà cụ non » ít nói cho 2 người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận ! Suốt một tuần liền em nằm lì trong buồn trong, không chịu học hành … Một hôm, bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ … Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý : « mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu » Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …
Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. bất chợt em hỏi tôi :
- Thầy có thích ăn sim không ?
Tôi nhìn xuống sườn đồi : tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ … Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.
- Thầy ăn đi.
Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ : « Ngọt quá ».
Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế !
Cứ thế, chúng tôi ăn hết quả này đến quả khác.Tôi nhìn em, em cười. hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì … tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo !
Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi … Tôi quay đầu nhìn lại … em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa …
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …
Chín năm sau, tôi trở lại nhà, về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn là cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp …
Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm « soạn kịch bản ».
Một tuần sau đó, chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là :’yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả’. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay … lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết !
Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, Em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ giờ em không còn cô bé Ninh nữa, mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại … Nếu như 9 năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mát thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.
Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ : vợ tôi qua đời ! Em chết thật thảm thương : Hôm đó là ngày 25/05 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối ! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi nỗi đau không gì bù đắp nổi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sau thẳm trong trái tim tôi …
Tôi phải giấu kính nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn … Dường như càng kèm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, Tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:
Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh …

… Tôi về không gặp nàng …
Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hoá … Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.
Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 02/04/1916 hiện tại đang « ở nhà trông vườn » ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ « quê đẻ của tôi đấy » thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá.
Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay, nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu :
Chiều hành quân, qua những đồi sim
Những đồi sim, những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt
Và chiều hoang tím có chiều hoang biếc
Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi’ hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi’. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá ! với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi !
Đó là thời năm 1955-1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút cam tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn. Làm thơ phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì ! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng … Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn 1 tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông … Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động.. Tôi phản động ở chỗ nào ? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc ?
Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được ! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có 2 cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi … Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi ! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi ! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi.
Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mết chuộng. sau năm 1956, khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm !
Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954-1955.
Lúc đó còn là chính trị viên của tiểu đoàn, tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học, lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần 500 mẫu tư điền.
Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn, nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông. Thế rồi, một hôm, Tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố . Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại 2 cái đầu đó, cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.
Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ, nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.
Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi ; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.
Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.
Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó, bữa đói bữa no … Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa !
Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ. Thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm ra nhập làm gì.
Năm 1988, tôi « tái xuất giang hồ » sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gío. Tôi lang bạt gần 1 năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự.
Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyền bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với gía 100 triệu đồng. Họ bảo, đó là một hình thức bảo tồn tài sản Văn hoá. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia « lộc » cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi gìa, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.
Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán…”.

Nhà Thơ HỮU LOAN
MÀU TÍM HOA SIMNàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…
Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…

Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu…

Thứ Ba, 26 tháng 2, 2013

Tiếng Việt tuyệt vời

 

image

Bài thơ này có 8 cách đc.
Có l ch có tiếng Vit mi phong phú như thế !


1. Bài thơ gc (bài 1):

Ta mến cnh xuân ánh sáng ngi
Thú vui th
ơ rượu chén đy vơi
Hoa cài giu trúc cành xanh biếc
Lá quy
n hương xuân sc thm tươi
Qua li khách ch sông lng sóng
Ng
ược xuôi thuyn đi bến đông người
Xa ngân ti
ếng hát đàn trm bng
Tha th
ướt bóng ai mt mm cười.


2. Ðc ngược bài gc t dưới lên, ta được bài 2:


Cười mm mt ai bóng thướt tha
B
ng trm đàn hát tiếng ngân xa
Ng
ười đông bến đi thuyn xuôi ngược
Sóng l
ng sông ch khách li qua
T
ươi thm sc xuân hương quyn lá
Bi
ếc xanh cành trúc giu cài hoa
V
ơi đy chén rượu thơ vui thú
Ng
i sáng ánh xuân cnh mến ta.

image

3. B hai ch đu mi câu trong bài gc,
ta được bài (ngũ ngôn bát cú, lut bng vn bng):

Cnh xuân ánh sáng ngi
Th
ơ rượu chén đy vơi
Gi
u trúc cành xanh biếc
Hương xuân sc thm tươi
Khách ch sông lng sóng
Thuy
n đi bến đông người
Ti
ếng hát đàn trm bng
Bóng ai mt mm cười.


4. B hai ch cui mi câu trong bài gc,
đc ngược t dưới lên, ta được bài
(ngũ ngôn bát cú, lut bng vn bng):

Mt ai bóng thướt tha
Ðàn hát ti
ếng ngân xa
B
ến đi thuyn xuôi ngược
Sông ch
khách li qua
S
c xuân hương quyn lá
Cành trúc gi
u cài hoa
Chén r
ượu thơ vui thú
Ánh xuân c
nh mến ta.


5. B ba ch cui mi câu trong bài gc,
ta được bài (tám câu x bn ch ):

Ta mến cnh xuân
Thú vui th
ơ rượu
Hoa cài gi
u trúc
Lá quy
n hương xuân
Qua l
i khách ch
Ng
ược xuôi thuyn đi
Xa ngân ti
ếng hát
Tha th
ướt bóng ai.


6. B ba ch đu mi câu trong bài gc,
đc ngược tdưới lên, ta được bài
(tám câu x bn ch):

Cười mm mt ai
B
ng trm đàn hát
Ng
ười đông bến đi
Sóng l
ng sông ch
T
ươi thm sc xuân
Bi
ếc xanh cành trúc
V
ơi đy chén rượu
Ng
i sáng ánh xuân.

image

7. B bn ch đu mi câu trong bài gc,
ta được bài (tám câu x ba ch) :

Ánh sáng ng
i
Chén đ
y vơi
Cành xanh bi
ếc
S
c thm tươi
Sông l
ng sóng
B
ến đông người
Ðàn tr
m bng
M
t mm cười.


8. B bn ch cui mi câu trong bài gc,
đc ngược t dưới lên, ta được bài
(tám câu x ba ch):
Bóng thướt tha
Ti
ếng ngân xa
Thuy
n xuôi ngược
Khách l
i qua
H
ương quyn lá
Gi
u cài hoa
Th
ơ vui thú
C
nh mến ta

Thứ Năm, 7 tháng 2, 2013

Sài Khao sương tỏa hùng Tây Tiến

 

TTXuân - Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!/Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi/Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi/Mường Lát hoa về trong đêm hơi…

Bình minh trên thị trấn Mường Lát - Ảnh: Hà Đồng

Người du kích Lương Văn Pém của đoàn quân năm xưa - Ảnh: Hà Đồng

Những câu thơ trong bài Tây Tiến bi hùng của Quang Dũng cách nay 65 năm về "đoàn quân không mọc tóc" cứ thôi thúc chúng tôi. Một ngày cuối đông, chúng tôi vác balô ngược dòng "sông Mã gầm lên khúc độc hành" từ Thanh Hóa trực chỉ Mường Lát. Sương mù dày đặc, xe len trong sương mà đi.
Vực sâu ngàn thước
Sau bảy tiếng đồng hồ qua quốc lộ 47, đường Hồ Chí Minh, quốc lộ 15A rồi tỉnh lộ 520, qua các huyện Đông Sơn, Triệu Sơn, Thọ Xuân, Ngọc Lặc, Lang Chánh, Bá Thước, Quan Hóa sau khi băng qua 250km đường sá cheo leo trầy trật, xe chúng tôi đặt chân lên thị trấn Mường Lát.
Thị trấn nằm trên đỉnh núi, dưới khe sâu con sông Mã oai hùng thét gào đỏ ngầu phù sa. Bữa cơm tối ở quán cơm Hải Muối, bà chủ quán làm cho tô canh cá măng nấu mẻ chua với cọng dọc mùng (miền Nam gọi là bạc hà hoặc cọng môn theo cách gọi miền Trung) húp xì xụp trong cái lạnh cuối đông, hơi khói mịt mù phà từ mũi miệng. Anh lái xe Lương Văn Tiệu giới thiệu: cá lăng sông Mã ngon nhất nước!
Sáng sớm khởi hành đi Sài Khao. Cách Mường Lát chỉ 20km nhưng ngay cả cư dân bản địa ở đây nhiều người không biết đường đi Sài Khao. "Là vì đường hiểm trở, không có đường ôtô, chỉ có thể đi xe máy hoặc đi bộ", anh bạn trẻ dẫn đường người Thái tên Hoàng Văn Nhiệm cho biết. 20km đường đi Sài Khao, chúng tôi lần đầu hiểu thế nào là liều mạng.
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi…
Những con dốc dựng ngược trong bài Tây Tiến ngày xưa dành cho đội quân chân đất ngay trước mắt. Xe máy cài số một, mệt nhọc rú rít giật cục từng cơn bò trên con đường đất lẫn đá nhơm nhớp sương mai trơn trượt và chỉ rộng chừng 30cm – nhiều đoạn chỉ 20cm và vết mòn chỉ vừa lằn bánh xe, một bên là vách núi dựng đứng, một bên là vực sâu ngàn thước thăm thẳm.
Xe chạy qua, đất đá rơi lạo xạo rồi mất hút. Đường vừa đi qua, ngoái lại đã thấy mỏng te ngoằn ngoèo như sợi chỉ giữa trập trùng núi non và mờ ảo trong sương. Sơ sẩy là tan xác. Nhưng Nhiệm lại tự hào: đây là con đường thanh niên, do Đoàn thanh niên bản Suối Lóng làm cách đây hai năm với hơn 60 bạn trẻ làm ròng rã trong hai tháng để thông với Sài Khao.
"Bạt núi thành đường, gian nan lắm nhưng có con đường bản làng ta đi lại được, đưa con heo, con gà, bí ngô ra phố huyện" - Nhiệm nói. Bí ngô và bí xanh (bí đao) ở Sài Khao là loại giống đặc biệt từ ngàn đời chưa bị lai tạp, bởi người Mông dù di cư đến đâu cũng mang theo con giống bên mình, kể cả chó và heo, nổi tiếng nhất là giống lợn ỉ. Ông Phạm Bá Điểm - người Mường, phó chủ tịch huyện Mường Lát - cho biết lợn ỉ trong làng cứ thả lông nhông, đến mùa tết bà con mang ra huyện bán được 150.000 đồng/kg hơi. Đây còn gọi là "lợn cắp nách", đặc sản khi về xuôi.
Sau hơn hai giờ dò dẫm trên con đường kinh hoàng 8km từ bản Suối Lóng với những vực sâu thăm thẳm và vách núi lừng lững, bất ngờ trước mắt hiện ra một thung lũng nhỏ chìm khuất trong sương với những mái nhà bạc thếch. Nhiệm quăng xe nằm vật ra đất thở phì phì: đã đến Sài Khao! Tiếng chó sủa tong tóc nghe ấm áp. Sài Khao lừng danh bé bỏng và yên bình đến thế.
Trẻ em và người già Sài Khao đưa hàng về chợ huyện Mường Lát. Ngựa thồ là phương tiện tiện lợi nhất để vận chuyển hàng hóa về trung tâm - Ảnh: Hà Đồng

Bản nghèo bình yên
Bản có 74 hộ, toàn người Mông. Bao nhiêu nhân khẩu thì ông trưởng bản chịu, không biết. Nhà ông cũng là số ít có tường gạch, nền ximăng. Góc nhà chất đầy 60 bao lúa. Lúa ở đây tính bao, không tính ký. Diện tích canh tác cũng không tính bằng sào, bằng hecta. Giàng A Sùng - con trai ông trưởng bản, sinh năm 1986, đã có vợ và ba con, từng đi bộ đội đóng ở Kon Tum - cho biết: "Nhà ta trồng 60 ký lúa nương, 30 ký ngô". Cũng phải, tính sao được khi một hốc núi, một vạt đất cũng cắm hạt lúa, hạt ngô đợi ngày ra bông ra trái.
Ngày chủ nhật nên Vàng A Căng - một trong tám học sinh đang học ở trường huyện - về bản. "Bản ta đã có năm người học xong cấp III, có Vàng A May là người đầu tiên đang học ở Đại học Hồng Đức" - A Căng tự hào. Nhà Vàng A Căng có bảy anh em, ba người được đi học.
Nhưng số được đi học như anh em nhà A Căng không nhiều. Hai vợ chồng Vàng A Dơ và Sùng Thị Chu (26 và 25 tuổi) đã có ba con vẫn chưa biết chữ, dù Trường tiểu học Sài Khao chỉ cách nhà một hàng rào. Tục tảo hôn vẫn còn nặng ở vùng này. Một em bé gái lấp ló nhìn khách lạ, A Căng bảo: "Nó tới tuổi sắp lấy chồng rồi, thích ai thì về ở với người đó thôi". Đó là Vàng Thị Dúa, 12 tuổi. Cô bé có đôi mắt sắc và gò má ửng hồng, đỏ lựng như trái cà chua.
Bản nghèo, nghèo quá! Có cái ăn như nhà Vàng A Sùng không phải là nhiều. "Bí, ngô làm ra nhiều đấy nhưng chỉ để cho lợn ăn vì không có đường đi, không bán được" - ông Phạm Bá Điểm nói. Bí ngô ở chợ Mường Lát bán 10.000 đồng/kg, một trái chừng 3-4kg. Xe máy chở ra chợ mỗi lần được chừng 5-7 quả nhưng tiền xăng đã ngốn gần hết. Trâu, bò, lợn thì cứ thả rông, mùa lạnh lăn ra chết. Thế nhưng nhà nào cũng có chiếc xe máy. "Nghèo thì nghèo, ta vẫn cố lấy con xe làm cái chân mà đi" - Vàng A Dơ phân trần. Trước cửa nhà A Dơ là chiếc cối xay bằng đá to đùng còn vương vãi bột ngô mới xay dùng làm mèn mén, món ăn hằng ngày, sền sệt như hồ.
Con nít ở Sài Khao lăn lóc quẩn quanh trong bản. Mùa đông lạnh ngăn ngắt, sương mù quện quanh dày đặc, có đứa tồng ngồng không mặc quần, mũi dãi lò thò. Thương nhất là những bé gái chừng 5-6 tuổi đã cõng em ngoặt ngoẹo ngủ trên lưng, cả chị cả em đều phong phanh áo xống. Chỉ những cô thiếu nữ biết làm dáng mới mặc váy hoa sạch sẽ. Váy người Mông là một tuyệt tác, rực rỡ như đàn bướm hoa, đỏ ối pha lẫn vàng cam, trong cơn gió lạnh lùa về phảng phất khói sương như ngọn lửa làm bản làng ấm áp.
Sài Khao, tên bản đẹp và thân thương nhưng vẫn còn rất xa xôi và nghèo khó quá.
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Mường Lát có 7.161 hộ với 35.000 nhân khẩu. Mặc dù tỉ lệ hộ nghèo đã giảm so với năm trước nhưng trong năm 2012 vẫn còn 49,4% hộ nghèo. Toàn huyện có sáu dân tộc anh em: Mông, Thái, Mường, Dao, Khơ Mú và ít nhất là người Kinh.
Mường Lát nằm bên dòng sông Mã nổi tiếng với câu Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Sông Mã có hai nguồn chính, nguồn thứ nhất từ phía nam tỉnh Điện Biên chảy qua huyện Sông Mã của tỉnh Sơn La rồi qua lãnh thổ Lào, sau đó đổ về Thanh Hóa. Tại đây sông chảy qua các huyện phía bắc của tỉnh, hội lưu với sông Chu rồi đổ ra vịnh Bắc bộ theo hai nhánh cửa Lạch Hới và Lạch Sung. Phù sa sông Mã là nguồn chủ yếu tạo nên đồng bằng Thanh Hóa lớn thứ ba ở Việt Nam.

ĐẶNG ĐẠI - HÀ ĐỒNG
_____________________

Tây Tiến


Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi


Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Phù Lưu Chanh, 1948

QUANG DŨNG (Mây đầu ô, NXB Tác Phẩm Mới, Hà Nội, 1986)

Bến Ngọc - nơi đoàn quân Tây Tiến xuất binh Tranh: QUANG DŨNG vẽ năm 1960
Đoàn quân oai hùng Tây Tiến
Mường Lát, Sài Khao là hai địa danh trong bài Tây Tiến của Quang Dũng (phía cực tây Thanh Hóa, giáp biên giới Lào), người lính trong trung đoàn 52 Tây Tiến. Bài thơ này ông viết năm 1948. Số phận bài thơ lận đận như cuộc đời ông. Hiện nay bài Tây Tiến được đưa vào sách giáo khoa lớp 12 và còn được tạc vào bia đá đặt tại tượng đài nghĩa trang liệt sĩ Tây Tiến ở Mai Châu, Lạc Sơn (Hòa Bình).
Đoàn quân Tây Tiến thành lập tháng 2-1947, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp đích thân phân công về phía Tây Bắc, tiến về mạn Sơn La, Hòa Bình, tây Thanh Hóa, giáp biên giới Lào là Hủa Phăn, Xiêng Khoảng để phong tỏa, ngăn chặn ý đồ của quân Pháp đánh chiếm từ Lào qua, chiếm thế "cứ cao lâm hạ" uy hiếp các tỉnh từ Lai Châu đến Thanh - Nghệ và đặc biệt là thực hiện âm mưu "dĩ Việt chế Việt", chia rẽ và lập lực lượng lính Việt thiểu số đánh người Việt.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, trung đoàn Tây Tiến tiếp tục lên đường vào Nam làm nhiệm vụ giải phóng đất nước và sau đó làm nghĩa vụ ở nước bạn Campuchia. Đoàn quân này đã sản sinh ra những danh tướng trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc như Đại tướng Văn Tiến Dũng, huyền thoại bắn súng hai tay như một Tạ Đình Đề...

Đ.Đ.

Thứ Tư, 23 tháng 1, 2013

NGƯỜI ĐÀN BÀ THỨ HAI

(Dân trí) - Lời tâm sự với mẹ người mình yêu như “trấn an” và “định vị” chức phận của mỗi người. “Mẹ đừng buồn! Những hoàng hôn và những ban mai. Anh ấy có thể nhớ con hơn nhớ mẹ. Nhưng con chỉ là một cơn gió nhẹ. Mẹ luôn là bến bờ thương nhớ của đời anh”.


Người đàn bà thứ hai

(Minh họa: Ngọc Diệp
)


Mẹ đừng buồn khi anh ấy yêu con
Bởi trước con, anh ấy là của mẹ
Anh ấy có thể quên con, một thời trai trẻ
Nhưng anh ấy suốt đời yêu mẹ, mẹ ơi!

Mẹ đã sinh ra anh ấy trên đời
Hình bóng mẹ lắng vào tim anh ấy
Dẫu bây giờ, con được yêu đến vậy
Con cũng chỉ là ... người đàn bà thứ hai.

Mẹ đừng buồn!
Những hoàng hôn và những ban mai
Anh ấy có thể nhớ con hơn nhớ mẹ
Nhưng con chỉ là một cơn gió nhẹ
Mẹ luôn là bến bờ thương nhớ của đời anh

Con chỉ là một sợi khói mỏng manh
Bao người đàn bà khác có thể thay thế con trong tim anh ấy
Nhưng có một tình yêu âm ỷ cháy
Anh ấy chỉ dành riêng cho mẹ mà thôi

Anh ấy có thể sống với con đến suốt cả cuộc đời
Cũng có thể chia tay trong ngày mai, có thể…
Nhưng anh ấy suốt đời yêu mẹ
Dù thế nào, con cũng chỉ thứ hai.
Phan Thị Vĩnh Hà

BLOG: Nhân dịp Ngày Quốc tế Phụ nữ, BLOG Người yêu thơ xin được gửi tới tất cả chị em lời chúc mừng nồng nhiệt nhất. Về bài thơ Người đàn bà thứ hai, hiện có 2 luồng ý kiến khác nhau về tác phẩm này. Người thì cho rằng bài thơ này của Nhà thơ Xuân Quỳnh nhưng nhiều người lại cho rằng của tác giả Phan Thị Vĩnh Hà. Theo chúng tôi, có lẽ bài thơ của Vĩnh Hà đúng hơn vì giọng điệu bài thơ không giống với phong cách của Thi sĩ Xuân Quỳnh. BLOG Người yêu thơ rất mong nhận được ý kiến từ các bạn.

Thứ Ba, 15 tháng 1, 2013

Hoa trắng thôi cài trên áo tím

Những bóng hồng trong thơ nhạc : Hoa trắng thôi cài trên áo tím

HOA TRẮNG THÔI CÀI LÊN ÁO TÍM 
Nhà thơ Kiên Giang
Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa cháy quê hương
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương nóc giáo đường
 
Mười năm trước em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em còn nguyên vẹn tuổi băng trinh
 
Quen biết nhau qua tình lối xóm
Cổng trường đối diện ngó lầu chuông
Mỗi lần chúa nhật em xem lễ
Anh học bài ôn trước cổng trường
 
Thuở ấy anh hiền và nhát quá
Nép mình bên gác thánh lầu chuông
Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường
 
Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thùng, anh đứng lại không đi
 
Sau mười năm lẽ anh thôi học
 Nức nở chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi, chuông xóm đạo
Khi nàng áo tím bước vu quy
Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
Chiếc áo tang liệm kín khối sầu!
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Giữ làm chi kỹ vật ban đầu!
Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đò ngang cách mấy sông
Vẫn nhớ bóng vang thời áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng
Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ màu áo tím, cành hoa trắng
Giữ cả trường xưa, nóc giáo đường
Giặc chiếm lầu chuông xây ổ súng
Súng gầm rung đổ gạch nhà thờ
Anh đem gạch nát, xây tường lủng
Chiếm lại lầu chuông, giết kẻ thù
Nhưng rồi người bạn đồng song ấy
Đã chết hiên ngang dưới bóng cờ
Chuông đổ ban chiều, hồi vĩnh biệt
Tiễn anh ra khỏi cổng nhà thờ
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Mà cài trên nắp áo quan tài
Điểm tô công trận bằng hoa trắng
Hoa tuổi học trò, mờ thắm tươi
Xe tang đã khuất nẻo đời
Chuông nhà thờ khóc đưa người ngàn thu
Từ đây tóc rũ khăn sô
Em cài hoa trắng lên mồ người xưa.
*****
28/ 5/ 58

Hơn nửa thế kỷ trước, bài thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím của nhà thơ Kiên Giang ra đời (1958) đã làm xôn xao dư luận một thời. Bài thơ còn được biết đến nhiều hơn khi được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ thành ca khúc.
Kiên Giang là nhà thơ, soạn giả cải lương (tác giả các vở tuồng Áo cưới trước cổng chùa, Sơn nữ Phà Ca…), nhà báo - chứng nhân còn sót lại của sự kiện “Ngày ký giả đi ăn mày” (xảy ra vào năm 1974, báo giới miền Nam xuống đường với nón lá, bị, gậy của dân “cái bang” để chống đối chính quyền Thiệu ra sắc luật đàn áp báo chí)… Người viết chơi thân với ông đã gần hai mươi năm nhưng muốn gặp ông thật khó bởi ông luôn dịch chuyển (rất giống với ông bạn thân cùng lứa, cùng làng là nhà văn Sơn Nam).
Năm nay 84 tuổi, mái tóc đã gội tuyết sương đến bạc trắng nhưng nếu có ai hỏi về thời niên thiếu, về Sơn Nam, về Nguyễn Bính (người thầy dạy Kiên Giang làm thơ khi ông mới 17 tuổi) và nhất là về người con gái trong bài thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím là ông kể một mạch bằng một giọng bùi ngùi, không hề đứt đoạn, làm như những chuyện đó đã thấm vào máu thịt của ông…
“Thuở ấy anh hiền và nhát quá ...”
17 tuổi, anh học trò Trương Khương Trinh (tên thật của Kiên Giang) rời vùng quê Rạch Giá lên Cần Thơ học lớp đệ nhị (lớp 11 bây giờ) ở Trường trung học tư thục Nam Hưng. Vốn là người có hoa tay: vẽ vời và viết chữ rất đẹp (đến bây giờ chữ của ông vẫn rất lả lướt) nên ông được các thầy cô giáo cho thực hiện một tờ báo (chép tay vào cuốn vở học trò) lấy tên là Ngày xanh. Tờ báo này là đối trọng, giao lưu với tờ Thắm của Trường trung học Ba Sắc, cũng nằm trên địa bàn. Cứ vào chủ nhật mỗi tuần, các cô cậu “nhà báo - học trò” lại quây quần trong một vườn xoài xanh um bóng mát để thực hiện tờ báo. Kiên Giang biên tập bài vở và trình bày (vẽ, trang trí…), còn cô bạn Nguyễn Thị Nhiều thì chép bài vở (có lẽ chữ cô này đẹp hơn chữ của Kiên Giang!).
Tuy mang cái tên rất dân dã nhưng Nhiều rất đẹp với mái tóc dài ôm xõa bờ vai, thỉnh thoảng vờn bay trong gió. Mái tóc ấy, khuôn mặt ấy đã khiến tâm hồn non trẻ nhưng rất lãng mạn của chàng trai sau này trở thành nhà thơ… tơ vương. Gia đình nàng theo đạo Thiên Chúa nên mỗi sáng chủ nhật nàng thường đi lễ nhà thờ Cần Thơ. Kiên Giang không theo đạo nhưng sáng chủ nhật nào cũng “rình” trước cổng nhà thờ để được “tháp tùng” nàng trên đường đi lễ về. “Yêu nhau” chỉ có vậy: ngoài những cái liếc mắt và những nụ cười thẹn thùng, e ấp thì hai người chẳng còn thứ gì để “trao đổi” nữa cả. Tuy thế, cả hai đều cảm nhận được những tình cảm sâu kín mà họ dành cho nhau. Rồi cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra, kéo dài suốt 9 năm (1945-1954), việc học hành bị gián đoạn, trường lớp tan tác… Kiên Giang và bạn bè thân thiết (Nguyễn Bính, Sơn Nam…) vào Khu 8 tham gia kháng chiến, và rồi ông lập gia đình trong thời gian này.

Bài thơ và thủ bút của nhà thơ Kiên Giang tặng người viết
“Để nghe khe khẽ lời em nguyện”
Sau này, nhiều lần Kiên Giang tâm sự với người viết: “Điều xót xa (sau này mới biết) là trong những tháng ngày loạn lạc đó, Nhiều vẫn âm thầm chờ đợi tôi. Năm 1955, nàng quyết gặp mặt tôi một lần rồi mới lấy chồng. Tình cảm cứ ám ảnh tôi khôn nguôi. Tôi đưa hình ảnh và tâm sự của hai đứa vào bài thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím, làm tại Bến Tre năm 1958. Ở đoạn kết có những câu: “Ba năm sau, chiếc xe hoa cũ/Chở áo tím về giữa áo quan/Chuông đạo ngân vang hồi tiễn biệt/Khi anh ngồi kết vòng hoa tang…”, tôi đã “cho” người mình thầm yêu phải chết đi, để mối tình kia còn nguyên vẹn là của riêng mình. Tuy nhiên, một thời gian sau tôi có dịp gặp lại cố nhân ở Sóc Trăng (lúc này nàng đã có chồng). Sau cuộc gặp gỡ đó, không hiểu sao tôi lại muốn mình (người bạn trai trong bài thơ) chết để bảo vệ quê hương, để không còn vương vấn mối tình thuở học trò. Tôi đã sửa lại đoạn kết như thế ở Hàng Xanh (Gia Định), nhưng hầu như bạn đọc chỉ thích giữ nguyên tác, nhất là khi nó được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ thành ca khúc thì bài thơ lại càng nổi tiếng, lan tỏa. Có lần tôi thú thực với bà xã về cái ấn tượng “sắc hoa trắng - màu áo tím”. Từ đó không có màu tím trong tủ áo nhà tôi nữa...”.
Trong thơ là thế nhưng sự thật ngoài đời chẳng có ai chết cả. Năm 1977 họ lại có dịp gặp nhau. 33 năm đã trôi qua kể từ “Thuở ấy anh hiền và nhát quá/Nép mình bên gác thánh lầu chuông/Để nghe khe khẽ lời em nguyện/Thơ thẩn chờ em trước thánh đường…”, bây giờ gặp lại, hai mái đầu đã bạc. Cả hai cố tránh không nhắc nhớ về cái thời cùng học dưới mái trường Nam Hưng, nhưng tự trong sâu thẳm tâm hồn họ vẫn trân trọng “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy”.
Kiên Giang kể lại, đầu năm 1999 Hãng phim truyền hình TP.HCM (TFS) thực hiện một bộ phim tài liệu về ông mang tên Chiếc giỏ đời người (Kiên Giang đi đâu cũng kè kè một chiếc giỏ, mặt ngoài vẽ chi chít chữ - NV), trong kịch bản có một cảnh quay tại Cần Thơ. Khi ông và ê kíp làm phim đến nhà “người xưa” mời bà Nhiều ra quay cảnh ở nhà thờ chính tòa thì thấy ngôi nhà đóng cửa, lạnh ngắt. Người hàng xóm cho biết bà Nhiều đã qua đời năm 1998. Ông thật xót xa… Hôm sau ông trở lại, cô con gái của bà Nhiều kể rằng lúc bà mất, tang gia có gửi thiệp báo tin cho ông nhưng tiếc là ông đã không nhận được để tiễn biệt người xưa lần cuối thực sự chứ không phải tiễn biệt như trong thơ. Rồi ông cùng người con gái của bà ra nghĩa trang viếng mộ. “Người xưa” bây giờ chỉ còn là di ảnh trên bia mộ, nhưng người con gái đứng bên ông thì lại giống cô Nhiều ngày trước lạ lùng…

Cũng cần nói thêm, năm 2002 người viết đã có giới thiệu (và đăng) bài thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím trên Báo Thanh Niên. Hôm đó, các sạp báo ở Sài Gòn không còn tờ Thanh Niên nào sót lại, rất nhiều người (có cả những anh chạy xe ôm, xích lô…) đã đến tận tòa soạn để hỏi mua. Ở Cần Thơ cũng “cháy báo”, không còn đủ số lượng cung cấp cho bạn đọc (hồi đó ở Cần Thơ Báo Thanh Niên chưa được in cùng lúc với nhiều chỗ như bây giờ), tòa soạn ở TP.HCM phải in thêm, đưa xuống tặng bạn đọc. Kể như thế để thấy rằng bài thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím được công chúng miền Nam yêu thích như thế nào.

Hà Đình Nguyên
 

ĐÔI MẮT NGƯỜI SƠN TÂY

Quang Dũng
Em ở thành Sơn chạy giặc về
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt bao lần quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

Vừng trán em vương trời quê hương
Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương
Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ em nhớ thương

Từ độ thu về hoang bóng giặc
Điêu tàn thôi lại nối điêu tàn
Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ
Em có bao giờ lệ chứa chan

Mẹ tôi em có gặp đâu không
Những xác già nua ngập cánh đồng
Tôi cũng có thằng em còn bé dại
Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông

Đôi mắt người Sơn Tây
U uẩn chiều lưu lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây

Cho nhẹ lòng nhớ thương
Em mơ cùng ta nhé
Bóng ngày mai quê hương
Đường hoa khô ráo lệ

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn quanh phủ quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng

Bao giờ tôi gặp em lần nữa
Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa
Đã hết sắc mầu chinh chiến cũ
Còn có bao giờ em nhớ ta

Nhà thơ Quang Dũng
ĐÔI DÒNG TIỂU SỬ

Quang Dũng tên thật Bùi Đình Diệm, sinh năm 1921 tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng (nay thuộc Hà Nội).

Thuở nhỏ, ông theo học trung học tại trường Thăng Long, Hà Nội.
Sau 1954, ông làm biên tập viên tại báo Văn nghệ, rồi chuyển về Nhà xuất bản Văn học.

Sau 1954, ông làm biên tập viên tại báo Văn nghệ, rồi chuyển về Nhà xuất bản Văn học.

Sau năm 1954, ông sống như một kẻ vô danh tại miền Bắc, từ trần ngày 13 tháng 10 năm 1988 tại Hà Nội sau một thời gian dài đau bệnh.

Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Bài Thơ Sông Hồng (1956), Rừng Biển Quê Hương (1957), Mây Đầu Ô (1986), truyện ngắn Mùa Hoa Gạo (1950), hồi ký Làng Đồi Đánh Giặc (1976)......

Thơ Quang Dũng nằm giữa biên giới của thật và mơ, như khói như mây mờ mờ ảo ảo, như tiếng vọng từ chân trời nào xa vắng...

Ông là người tài hoa, vẽ tài, hát giỏi, thơ hay. Bài thơ Tây Tiến của ông mang đậm nét hào hùng, bi tráng pha chất lãng mạn được chọn vào giảng dạy trong giáo trình trung học phổ thông. Một số bài thơ của ông đã được phổ nhạc như Tây Tiến (Phạm Duy phổ nhạc), Đôi mắt người Sơn Tây (Phạm Đình Chương phổ từ hai bài thơ Đôi bờ và Đôi mắt người Sơn Tây), Kẻ ở (Cung Tiến phổ nhạc). Đặc biệt bài thơ Em mãi là 20 tuổi được 3 nhạc sĩ phổ nhạc khác nhau (Việt Dzũng, Phạm Trọng Cầu, Khúc Dương).

Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
 

Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2013

ĐÂY THÔN VỸ DẠ


Đây thôn Vỹ Dạ

Sao anh không về chơi thôn Vỹ ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên ,

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó ,

Có chở trăng về kịp tối nay ?

Mơ khách đường xa, khách đường xa ,

Áo em trắng quá nhìn không ra...
 
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà ?
 
                                                                   Hàn Mặc Tử
 


Hoàn cảnh sáng tác

Đây thôn Vỹ Dạ, lúc đầu có tên là Ở đây thôn Vỹ Dạ. Theo một số tài liệu, bài thơ được gợi cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử với một cô gái vốn quê ở thôn Vỹ Dạ  .
GS. Nguyễn Đăng Mạnh cho biết: Hồi làm nhân viên ở sở đạc điền Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử có thầm yêu trộm nhớ đơn phương một cô gái người Huế tên là Hoàng Thị Kim Cúc, con ông chủ sở. Một thời gian sau, nhà thơ vào Sài Gòn làm báo, khi trở lại Quy Nhơn thì cô gái đã theo gia đình về Vỹ Dạ (Huế). Một buổi kia, cô Cúc do sự gợi ý của một người em thúc bá, bạn của Hàn Mặc Tử, gửi vào cho nhà thơ một tấm bưu ảnh chụp một phong cảnh sông nước có thuyền và bến, kèm theo mấy lời thăm hỏi để an ủi nhà thơ lúc này đã mắc hiểm nghèo (bệnh phong).
Lời thăm hỏi không ký tên, nhưng bức ảnh và những dòng chữ kia đã kích thích trí tưởng tượng, cảm hứng, và đã gợi dậy những gì thầm kín xa xưa của Hàn Mặc Tử .
Theo Nguyễn Bá Tín, em ruột nhà thơ Hàn Mặc Tử, thì: Năm 1939, Hoàng Cúc nhận được hung tin nói trên từ Hoàng Tùng Ngâm. Nàng chuẩn bị một số tiền định gửi cho Hàn Mặc Tử uống thuốc nhưng không dám gửi. Nàng bèn gửi cho Hàn Mặc Tử một bức ảnh chụp cảnh nàng mặc áo lụa dài trắng đứng dưới vòm cây xanh mát. Nhận được ảnh, Hàn Mặc Tử rất vui. Chàng liền làm ngay bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ gửi ra Huế cho Hoàng Cúc
ST
 Thôn Vỹ Dạ
 
Trước đây, Vỹ Dạ là một địa danh nên thơ, một làng nổi tiếng của xứ Huế mộng mơ, vùng quê hương sản sinh ra nhiều văn nhân, thi sĩ và nghệ sĩ tài hoa, đã từng là đề tài sáng tác cho các thi nhân khắp nước.
Làng Vỹ Dạ thuộc huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Từ Đập Đá đi xuống làng Vỹ Dạ, phía bên phải là đồng lúa phì nhiêu, bờ tre xanh ngắt. Đến mùa lúa chín, cánh đồng trông như những đợt sóng vàng, lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời mỗi khi có gió nhẹ lướt qua. Phía bên trái là dòng sông Hương dịu dàng, nước trong xanh, bên kia sông là Cồn Hến.
Về nguồn gốc thôn Vỹ Dạ, trong cuốn “Ô Châu Cận Lục” xuất bản năm 1555 của Dương Văn An có ghi: Huyện Kim Trà (sau này chúa Nguyễn Hoàng đổi lại là huyện Hương Trà) gồm có 60 xã, xã thứ 60 là xã Vỹ Dạ. Nguồn gốc địa danh Vỹ Dạ do hai chữ Vy Dã đọc trại ra. Về ý nghĩa, Vy là lau lách. Trong truyện Kiều của Nguyễn Du có câu:
 
Gió chiều như gợi cơn sầu
Vi lô hiu hắt như màu khơi trêu.
Dã là đồng nội, là cánh đồng. Thơ cổ có câu:
Cuộc thế mịt mù trong dã mã.
Vy Dã có nghĩa là cánh đồng lau lách.
Làng Vỹ Dạ có nhiều gia đình tộc Nguyễn Phước tức là gia đình dòng dõi vua chúa và cũng là họ ngoại của Tướng Nguyễn Khoa Nam. Trải dài hơn 1 cây số hai bên đường Thuận An từ Đập Đá qua khỏi Chợ Mới thì tới phường Tây Thượng, đó là nơi cư ngụ của những gia đình tộc Nguyễn Khoa. Mỗi nhà là một biệt thự, có cây cảnh, hòn non bộ, vườn nuôi thú vật, chim chóc, trông rất đẹp mắt. Vỹ Dạ có đình làng, chợ, rạp hát, trường Thế Dạ, nhà thờ Tuy Lý Vương, thường gọi là phủ Ba Cửa, chùa Phước Huệ. Phía trên Vỹ Dạ là Đập Đá dùng để ngăn nước mặn từ sông Hương không cho chảy qua sông Như Ý thuộc làng Thọ Lộc làm hại cho ruộng lúa và cũng để cho việc giao thông với quận Phú Vang được dễ dàng. Phía dưới Vỹ Dạ là chợ Gia Lạc và chùa Ba La Mật. Chùa Ba La Mật cảnh trí thật đẹp, thiện nam tín nữ đến lễ chùa rất đông. Chùa này do cụ Nguyễn Khoa Luận, Bố Chánh Thanh Hóa xây dựng. Ông treo ấn từ quan, xuống tóc đi tu, sau trở thành Viên Giác Đại Sư.



Chữ Ba La Mật còn in dấu
Bóng mặt trời soi tỏ bấy nay.
(Ưng Bình Thúc Giạ)
Vỹ Dạ có phong cảnh nên thơ, có dòng sông xanh, có những thiếu nữ thướt tha duyên dáng, những chàng trai phong nhã, đa tình và là đề tài cảm hứng cho các thi nhân.


 


Vỹ Dạ có phong cảnh nên thơ, có dòng sông xanh, có những thiếu nữ thướt tha duyên dáng, những chàng trai phong nhã, đa tình và là đề tài cảm hứng cho các thi nhân.